Tin tức Khoa học công nghệ Khoa học công nghệ

Cập nhật ngày 25/08/2010,10:33:58
Đánh giá môi trường chiến lược trong quy hoạch phát triển thủy điện

Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là một phương pháp phân tích chính sách đã được áp dụng phổ biến trong thập kỷ qua. Trên cơ sở nhiều năm kinh nghiệm tiến hành đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và nhận thức ngày càng cao về yêu cầu tiến hành đánh giá ở các cấp ra quyết định chiến lược, hoạt động ĐMC đã phát triển rộng khắp thế giới với tốc độ nhanh chóng.

thuy%20dien.jpg

Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động ĐMC vẫn chưa được thể chế hóa ở cả châu Âu và hầu hết các quốc gia đang phát triển. Đối với các nước trong Liên minh châu Âu, chỉ thị về “đánh giá kế hoạch cụ thể của các chương trình” đã được thực thi từ năm 2004, nhưng kết quả thực hiện ở mỗi nước còn manh mún và chậm. Hơn nữa, chỉ thị này không quy định ở cấp độ chính sách. Sau đó, Nghị định do Liên minh châu Âu về các quy định môi trường (UNEEC) xây dựng cũng cơ bản đi theo định hướng như vậy. Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã áp dụng các quy định ĐMC mang tính định hướng dài hạn, bao gồm cả cấp chính sách. Trong Liên minh châu Âu, cấp hoạch định chính sách được đề cập trong một quy chế khác có tên “quy trình đánh giá tác động mở rộng”. Quy trình này đề cập đến các yếu tố xã hội và kinh tế theo hướng tiếp cận tổng hợp cho các đề xuất chính sách của Ủy ban châu Âu. Tuy nhiên, kết quả đánh giá cho thấy, việc thực thi các quy trình này còn khá nhiều bất cập.

Một trong những nguyên nhân chính của hiệu quả thực thi yếu kém đó là, phương pháp và công cụ ĐMC cho đến nay vẫn chưa đủ để đáp ứng cho nghiên cứu và ứng dụng kết quả ĐMC. Còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến chủ quan chính trị, sự thiếu quan tâm của các ngành khi tham gia vào quá trình ĐMC. Tuy nhiên, hy vọng rất lớn đó là ĐMC sẽ trở thành một quy trình hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia quy hoạch của các ngành để đưa ra quyết định có đủ thông tin hơn về sự phát triển của ngành, và đảm bảo rằng các chính sách phát triển bền vững của Nhà nước được xem xét đến trong quá trình ra quyết định chiến lược của ngành.

Về bản chất, ĐMC là một quá trình có hệ thống để lồng ghép các vấn đề cần xem xét liên quan đến tính bền vững vào trong các chính sách, kế hoạch, chương trình với trọng tâm thường là phân tích tác động có hệ thống của chính sách, kế hoạch hoặc chương trình đề xuất. Các nghiên cứu mới đây thường so sánh đối ngược hai hướng tiếp cận ĐMC là hướng tiếp cận định hướng tác động trên cơ sở đánh giá tác động môi trường truyền thống và hướng tiếp cận định hướng quyết định. Đây là hướng tiếp cận dựa nhiều hơn vào việc phân tích chính sách và quy hoạch chiến lược. Theo hướng tiếp cận này, việc đánh giá phải liên kết và lồng ghép với quá trình ra quyết định để xem xét tối đa hóa tác động. Đặc điểm này khác với hướng tiếp cận định hướng tác động vốn coi ĐMC là công việc được thực hiện khi quy hoạch đã hoàn thành. Phương pháp này coi ĐMC là một phần tách biệt hẳn chứ không phải một bộ phận cấu thành quá trình quy hoạch. Việc áp dụng hướng tiếp cận ĐMC định hướng quyết định cho thấy điều quan trọng đặc biệt là ĐMC phải đánh giá hoạt động quản lý nhà nước, các quy tắc, quá trình ra quyết định nhằm xác định các quy hoạch chiến lược. Hướng tiếp cận này ngày càng nhận được sự ủng hộ của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ĐMC.

Đối với lĩnh vực thủy điện, việc lồng ghép ĐMC trong quy hoạch phát triển thủy điện đã được quan tâm và triển khai ở một số nước dưới dạng các dự án nghiên cứu thí điểm. Theo các kết quả của những nghiên cứu này, ĐMC đã tạo một cơ chế đánh giá và tìm hiểu toàn bộ rủi ro tiềm năng liên quan đến thủy điện đối với con người và môi trường trong phạm vi trực tiếp nơi thi công dự án và khu vực rộng lớn hơn. Quá trình này cũng tạo ra cơ chế xác định và đánh giá các biện pháp giảm thiểu tác động và đền bù hiệu quả nhất, bao gồm cả biện pháp giảm thiểu rủi ro và đền bù đầy đủ cho các tác động tiêu cực xảy ra. ĐMC cũng giúp xây dựng bộ khung để nội hóa các chi phí tác động xã hội môi trường và biện pháp giảm thiểu vào quá trình đánh giá tính khả thi kinh tế của các dự án thủy điện.

Ngoài ra, khi thực hiện theo phương pháp tham gia, ĐMC còn cung cấp một khung để xây dựng sự đồng thuận giữa các bên liên quan theo hình thức phù hợp nhất của các biện pháp giảm thiểu tác động xã hội, tác động môi trường và cấp độ phát triển thủy điện hiệu quả, bền vững nhất như là một phần của hệ thống quy hoạch ngành điện nói chung. Hướng tiếp cận ĐMC trong trường hợp này là một bộ phận quan trọng của hướng tiếp cận xây dựng sự đồng thuận và tạo ra phương tiện để đảm bảo tính khách quan và cân bằng trong hệ thống ra quyết định.

Khi phân tích kinh tế, ĐMC sẽ là cơ sở để nội hóa các chi phí, lợi ích mà từ trước đến nay vẫn được coi là yếu tố tác động bên ngoài. Nhờ đó, ĐMC sẽ là phương tiện để so sánh toàn bộ các rủi ro, tác động có tính chất khác nhau. Ví dụ, thông qua phân tích kinh tế, chúng ta có thể so sánh tác động tiềm năng đối với văn hóa, đời sống của cộng đồng địa phương với rủi ro đe dọa đa dạng sinh học, và với tác động lên các quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu như phát thải khí nhà kính. Chính điều này, một lần nữa, lại là cơ sở cho việc ra quyết định khách quan về cấp độ phát triển thủy điện phù hợp và bền vững nhất. Khi đi theo hướng tiếp cận này, ta có thể hiện thực hóa toàn bộ tiềm năng của ĐMC như là một bộ phận của công tác quy hoạch chiến lược. Điều này giúp phân biệt ĐMC với ĐTM thông thường và phương pháp tiếp cận bảo vệ đối với các vấn đề xã hội và môi trường vốn được coi là không hiệu quả để xây dựng mô hình phát triển bền vững hơn. Việc giới thiệu về ĐMC như trên khẳng định rằng, ĐMC phải mang tính định hướng quyết định, cân bằng và dựa trên cơ sở bằng chức xác thực.Bài học rút ra từ ĐMC với những vấn đề chiến lược chủ chốt được tóm lược như sau:

ĐMC đã chứng minh rằng cấp độ phát triển thủy điện trong quy hoạch phát triển hệ thống năng lượng tại một số quốc gia, về bản chất, là cấp độ kỳ vọng xét về chi phí ở mức tối thiểu, nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện của quốc gia trong tương lai. Nhận định này vẫn đúng ngay cả khi nội hóa toàn bộ chi phí xã hội và môi trường vào trong phân tích kinh tế thủy điện, và ngay cả khi tổng chi phí của các nguồn điện thay thế khác cao hơn. Do đó, đã chứng minh được ý nghĩa của sự đóng góp của thủy điện cho phát triển đất nước.

ĐMC cũng cho thấy thủy điện có thể đóng góp cho sự phát triển theo một cách khác nếu thực hiện các biện pháp phù hợp: nó có thể là chất xúc tác cho sự phát triển kinh tế ở vùng sâu, vùng xa. Do đó, các quy hoạch ngành năng lượng cần bổ sung các biện pháp để tăng cường cơ hội phát triển cho các địa phương. Nếu làm được điều đó, thủy điện sẽ mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng địa phương thông qua việc cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường, có cơ hội tạo các nguồn thu nhập mới và được hưởng các dịch vụ mới.

Tuy nhiên, hiện nay các tác động có lợi của việc phát triển thủy điện, mà cụ thể là việc mở ra nhiều cơ hội cho các lĩnh vực khác như quản lý tài nguyên nước, phát triển nông nghiệp, cung cấp dịch vụ, xóa đói giảm nghèo vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.Di dời cộng đồng địa phương là vấn đề mấu chốt và gây nhiều tranh cãi khi phát triển thủy điện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đây là hệ quả không thể tránh khỏi của việc phát triển thủy điện. Kinh nghiệm giảm thiểu tác động của việc di dời người dân ở các nước đang phát triển còn rất hạn chế so với kinh nghiệm hay trên thế giới về tái định cư. ĐMC đã chứng minh rằng, đây không phải là vấn đề lớn và có thể giải quyết thông qua một gói các biện pháp giảm thiểu tác động và phát triển để cung cấp phương tiện đảm bảo cho người phải di dời được hỗ trợ phát triển dài hạn và có cuộc sống tốt hơn sau khi tái định cư. Gói biện pháp này đòi hỏi chi phí lớn hơn nhưng chưa lớn đến mức làm ảnh hưởng đến tính khả thi kinh tế của các chương trình, dự án đã quy hoạch. Gói biện pháp cũng cần có sự ủng hộ về mặt chính trị và sự phối hợp hiệu quả hơn giữa các nỗ lực phát triển.

Nguồn tài nguyên nước chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng khi phát triển thủy điện. Các phân tích trong ĐMC cho thấy, trong mọi trường hợp đều phải đặt bài toán phát triển thủy điện trong bối cảnh quy hoạch tổng thể nguồn tài nguyên quốc gia và lưu vực. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực trạng là công tác quy hoạch tài nguyên nước và năng lực quản lý tài nguyên nước ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng lớn đến tính bền vững trong phát triển thủy điện. Tác động của thủy điện đến tính nguyên vẹn của hệ sinh thái được các bên liên quan xác định là vấn đề chiến lược cốt lõi. ĐMC chứng minh rằng, không thể tránh khỏi tác động ở một mức độ nhất định đến ba lĩnh vực: tài nguyên rừng, tài nguyên nước và sự đa dạng sinh học. Tuy nhiên, có thể giảm thiểu nguy cơ tác động nếu áp dụng hiệu quả các biện pháp giảm thiểu mang tính dự phòng. Chi phí thực hiện các biện pháp này được nội hóa trong chi phí phát triển thủy điện. Các biện pháp đó, để thành công, cần phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực lâm nghiệp, ngư nghiệp, các khu bảo tồn… Liên quan đến các biện pháp giảm thiểu, các nghiên cứu đều khuyến nghị phải đưa ra các biện pháp này trước khi bắt đầu phát triển nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro tác động tiêu cực. Các biện pháp sẽ không phát huy hiệu quả nếu được áp dụng quá muộn. Vấn đề chiến lược cuối cùng là hệ thống quy hoạch thủy điện. Các kết quả nghiên cứu đều thống nhất về tầm quan trọng của việc lồng ghép quá trình ĐMC vào hệ thống quy hoạch chiến lược của ngành.

Để triển khai công tác này một cách có hiệu quả, trước hết cần thiết phải phát triển năng lực cho các đơn vị, tổ chức liên quan. Sự đầu tư này sẽ giúp cải thiện đáng kể tính hiệu quả của quá trình lập quy hoạch và cung cấp một phương tiện hữu hiệu hỗ trợ ra quyết định về đầu tư cho ngành năng lượng nói chung và ngành thủy điện nói riêng.

  
 
Ths. Trần Việt Hòa và các thành viên nhóm nghiên cứu ĐMC
Hồ Tú Quân - P1ASB2
Ý kiến của bạn
(Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng chính thức)
Tin đã đưa:
Xem tin ngày
Thông báo
Ảnh: Ban QLDA Thủy điện Sông...
Ảnh: Ban QLDA Thủy điện Sông...
Video: ABBANK giao dịch từ 8h-...
Vui lòng tải Flash Player để xem clip này.
Thăm dò ý kiến
Theo bạn Quy chế phân phối tiền lương mới nên có tỉ trọng giữa LCB và lương hiệu quả như thế nào?
Lương hiệu quả cao hơn LCB
LCB cao hơn lương hiệu quả
Tất cả lương trả theo LCB
Tất cả lương trả theo hiệu quả
Ý kiến khác
Thuy dien song bung 2 - Binh chon tham do y kien
Thuy dien song bung 2 - Ket qua tham do y kien

Thông tin truy cập
User login
guest
Trực tuyến
8
Lượt truy cập
777625