.JPG)
Các DAĐT nguồn điện phải đảm bảo: Thứ nhất, cung cấp điện tin cậy và liên tục cho các hộ tiêu thụ. Thứ hai, nguồn điện khi hoạt động phải đem lại lợi nhuận. Đây là những yêu cầu cơ bản và bắt buộc khi đánh giá hiệu quả và ra quyết định thực hiện các DAĐT vào các thành phần của hệ thống điện (HTĐ). Đồng thời phải xác định tính hợp lý của việc thực hiện DAĐT, có cân nhắc tới những đặc thù hoạt động và phát triển của thị trường điện.
DAĐT thông thường gồm 5 giai đoạn thực hiện.
Giai đoạn thứ nhất: Chủ dự án cùng với cơ quan chuyên môn xác định tính hấp dẫn của ý tưởng dự án và tiến hành thương thảo với các bên có thể sẽ tham gia dự án (cơ sở chế tạo, công ty xây lắp, công ty hoặc viện nghiên cứu khoa học và thiết kế, cơ quan chính quyền địa phương và khu vực). Việc ước tính sơ bộ chi phí cho DAĐT được thực hiện trong giai đoạn này.
Giai đoạn thứ hai: Tìm kiếm các nhà đầu tư có thể sẽ tham gia DAĐT. Phân tích nguồn và hình thức tham gia đầu tư.
Giai đoạn thứ ba: Xác định sơ bộ thời hạn xây dựng (hoặc mở rộng cải tạo, hiện đại hóa) công trình năng lượng, cơ sở nhiên liệu của dự án, chương trình phát hành cổ phiếu bổ sung, chính sách tín dụng. Ở giai đoạn này, cần phải làm các thủ tục xin cấp phép thi công (hoặc mở rộng, cải tạo, hiện đại hóa) công trình năng lượng.
Giai đoạn thứ tư: Hoạch định chương trình sản xuất có cân nhắc đến các phụ tải điện (nhiệt) trong tương lai gần, bảo đảm nhiên liệu, các giải pháp sơ đồ về phát công suất theo điều kiện vận hành của HTĐ.
Giai đoạn thứ năm: Cũng là giai đoạn cuối cùng của việc triển khai DAĐT. Nghiên cứu khả thi (kinh tế - kỹ thuật) các phương án thực hiện, có xét đến các đánh giá dự báo hiện có về phát triển ngành điện và công nghiệp trong khu vực và trong cả nước nói chung, kể cả những rủi ro về tài chính - đầu tư và thị trường của dự án.
Giai đoạn này cần được xem xét tỉ mỉ hơn bởi vì phân tích hiệu quả kinh tế của dự án là điều kiện chủ yếu, nếu không thực hiện thì không thể trình dự án lên chủ dự án để xem xét, phê duyệt.
Khi đánh giá chi phí cho DAĐT, đơn vị tư vấn thiết kế dự án trong phần lớn các trường hợp không thể tác động đến giá chế tạo các thiết bị chính cho dự án cũng như chi phí xây lắp, nhưng có quyền đưa ra khuyến nghị cho chủ dự án về việc tiến hành các giao dịch, khế ước cần thiết. Đồng thời, khi thẩm định sơ bộ các thông tin ban đầu nhận được theo các kết quả tiến hành bốn giai đoạn đầu tiên, đơn vị tư vấn thiết kế - tư vấn kinh tế có trách nhiệm nhìn thấy và đề xuất các phương hướng nâng cao hiệu quả của DAĐT, nhận định các điều kiện kinh tế và tiêu chuẩn để tối ưu hóa công việc thiết kế đầu tư, nhận định các chỉ tiêu về hiệu quả và rủi ro nhằm thỏa mãn tối đa các yêu cầu của nhà đầu tư.
Cùng thỏa thuận với các chuyên gia năng lượng, có thể đề xuất các công nghệ, giải pháp kỹ thuật, sơ đồ tài chính mới. Trên cơ sở kết quả phân tích thông tin ban đầu, đơn vị tư vấn thiết kế đưa ra các khuyến nghị tương ứng cho các bên tham gia dự án, kể cả về thay đổi những đặc tính riêng biệt của dự án và cơ chế tổ chức - kinh tế của việc thực thi dự án. Vì vậy trong quá trình thiết kế, đơn vị tư vấn thiết kế - tư vấn kinh tế đóng vai trò quan trọng và do đó phải được coi như một trong những nhà tư vấn thiết kế chính của dự án.
Kinh nghiệm thực hiện DAĐT trong ngành điện cho thấy đặc điểm quan trọng trong việc lập các DAĐT là phải hài hoà các đặc tính của công trình được thiết kế với các yêu cầu của HTĐ. Theo quan điểm hệ thống chung, nhất thiết phải tiến hành nghiên cứu marketing, phân tích kế hoạch phát triển trong tương lai, xác định vai trò công trình trong biểu đồ phụ tải của HTĐ, xem xét các phương án thay thế về cung cấp điện (nhiệt). Đồng thời phải cân nhắc đến các ràng buộc như: Phụ tải tối thiểu của thiết bị nhiệt (lò hơi) trong cân bằng công suất điện tại các điểm nút của HTĐ, khả năng truyền tải của các đường dây truyền tải, yêu cầu duy trì biểu đồ vận hành của mạng nhiệt, v.v. Để tính đến các ràng buộc này, cần phải hiểu biết thấu đáo kỹ thuật và công nghệ sản xuất điện, nếu không sẽ không thể đánh giá được một cách khách quan hiệu quả của DAĐT.
Trong quá trình đánh giá hiệu quả của DAĐT cần phải lường trước toàn bộ các hoạt động, xem xét đến lợi ích của tất cả các bên tham gia DAĐT (ví dụ: Các công ty nguồn, công ty điện lực, nhà đầu tư, nhà cấp tín dụng, công ty xây dựng công trình, v.v.) và kết quả đánh giá phải là thành tựu của từng bên tham gia DAĐT về kết quả tài chính của chính họ đặt ra. Điều quan trọng là phải làm sao cho hiệu quả là khả quan và chấp nhận được đối với nhà đầu tư. Trong trường hợp đó DAĐT có thể được khuyến nghị để thực thi. Đương nhiên khi xem xét một số phương án thì ưu thế thuộc về DAĐT đạt tiêu chuẩn hiệu quả tối đa.
Hãy xem xét một số chỉ tiêu chính và phụ về hiệu quả được áp dụng trong tính toán: Lợi nhuận ròng qui về hiện tại, tỉ suất lợi nhuận, thời hạn hoàn vốn, có hoặc không qui về hiện tại. Nói chung các chỉ số trên qui về hiện tại đều là các chỉ tiêu chính, ngoài ra còn phải kể thêm cả chỉ số thu nhập nội bộ.
Lợi nhuận ròng qui về hiện tại (LRH) bằng hiệu số giữa giá trị hiện tại của dòng thu nhập (lợi nhuận) tương lai và giá trị hiện tại của các chi phí tương lai cho việc thực hiện, vận hành và bảo dưỡng kỹ thuật dự án trong suốt toàn bộ sinh hạn của dự án.
Tỉ suất lợi nhuận (TL) là tỉ số giữa lợi nhuận quy đổi và vốn đầu tư quy đổi. Chỉ số này cho thấy lợi nhuận tương đối của dự án, tính cho một đơn vị vốn đầu tư.
Thời gian hoàn vốn (qui về hiện tại) TQHHV - khoảng thời gian ngắn nhất mà kể từ đó về sau, lợi nhuận ròng qui về hiện tại cộng dồn trở nên không âm và tiếp sau đó vẫn không âm.
Chỉ số thu nhập nội bộ (internal rate of return - IRR) của dự án là mức chiết khấu mà với mức chiết khấu này tổng lợi nhuận bằng tổng chi phí.
Đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư có xét đến sự không đồng đều của các chi phí trong DAĐT thực hiện vào các năm khác nhau về thiết kế, xây dựng và khai thác công trình được tiến hành với việc quy đổi tất cả các chỉ tiêu tham gia vào tính toán hiệu quả DAĐT về một năm duy nhất (năm gốc) bằng cách qui về giá trị gốc. Nhiệm vụ kinh tế quan trọng nhất trong việc đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư là xác định định mức chiết khấu. Để đánh giá định lượng định mức chiết khấu, người ta sử dụng các phương pháp thu nhập thay thế và chi phí vốn bình quân gia quyền. Trong thực tiễn tính toán, đơn vị tư vấn thiết kế - tư vấn kinh tế đều hiểu như nhau, coi đó là chỉ số cần thiết để xác định các hệ số quy đổi các khoản thu và chi tại các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm.
Nói chung mức chiết khấu thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, vấn đề này không được tính đến trong các kịch bản phát triển điện năng và người ta coi mức chiết khấu là ổn định, cụ thể là bằng 10%. Khi tác nghiệp với các dòng tiền giảm phát thì quan điểm đó chấp nhận được, tuy nhiên nói chung, các dòng tiền được thể hiện ở giá dự báo. Khi đó, mức chiết khấu cũng phải xét đến sự lạm phát. Trong trường hợp đó, việc áp dụng mức chiết khấu không đổi là không xác đáng. Kinh nghiệm nghiên cứu khả thi một số lượng lớn các DAĐT cho thấy với mức chiết khấu 12 - 13%, thì lợi nhuận ròng qui về hiện tại (LRH) thường là âm, còn khi giảm mức chiết khấu tới 10% thì lại trở thành dương.
DAĐT có hiệu quả nếu nó đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư không chỉ về mức độ hiệu quả, mà còn về các rủi ro khi thực hiện. Để có thể giảm thiểu rủi ro, các phương sách sau đây được sử dụng riêng rẽ hoặc phối hợp trong tính toán khả thi:
1) Điều chỉnh bản thân DAĐT, nghĩa là nhằm xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án, có thể dự kiến: Thay đổi cơ cấu cấp vốn, bảo hiểm những rủi ro khác nhau (xây dựng, sản xuất, thương mại, v.v.), thay đổi các điều kiện mua nhiên liệu và vật liệu, tăng cường áp dụng chính sách của nhà nước về các biểu giá nhiệt, điện, v.v.
2) Điều chỉnh lượng tiền vào và chi phí (dự trữ và dự phòng để cấp cho các chi phí chưa lường trước, dự kiến trường hợp không sử dụng hết công suất, v.v.).
3) Áp dụng mức chiết khấu tăng cao trong tính toán.
Xác định hiệu quả của DAĐT đòi hỏi thực hiện hàng loạt các tính toán so sánh hiệu quả của các phương án khác nhau về công suất và kiểu thiết bị, công nghệ sản xuất điện và nhiệt, các phương thức vận hành thiết bị, loại nhiên liệu, các phương pháp bảo vệ môi trường, v.v. Ngoài ra, khi xây dựng mỗi phương án, cần phải tính đến sự tương hợp giữa các đặc tính sản xuất và các yêu cầu của HTĐ.
Không thể hy vọng đạt được luận chứng chất lượng cao về hiệu quả của dự án nếu các tính toán kinh tế kỹ thuật do các nhà công nghệ không hiểu rõ những vấn đề quản lý tài chính lập, hoặc do các nhà kinh tế chuyên môn chung không có đủ kiến thức về nhiệt năng lập.
Để làm sáng tỏ những vấn đề phát sinh khi tiến hành nghiên cứu khả thi, hãy xem xét kết quả tính toán về hiệu quả công trình mới (NMNĐ Murmanskaia - 2, NMNĐ Novgorođskaia, NMNĐ Đubrovskaia) và công trình mở rộng (Kostromskaia).
Các tính toán đã được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ do chủ dự án giao. Đã xem xét các phương án khác nhau về lựa chọn thiết bị, thời hạn thi công, tỉ lệ nguồn vốn vay, mức chiết khấu, biểu đồ thanh toán các khoản tín dụng, loại than, v.v. Trong các nhiệm vụ đó, đã không đề cập đến việc xem xét hàng loạt yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các DAĐT.
NMNĐ Murmanskaia – 2. Trình bày hai phương án với mức chiết khấu 10%, nguồn vốn: 50% phát hành cổ phiếu (vốn cổ phần), 50% tín dụng. Phương án 3 x Tuabin khí hỗn hợp (TBKHH) -190 đốt khí từ mỏ khí Shtocmanovsk và phương án NMNĐ đốt than phun với các tuabin hơi 3 x T-185, than từ mỏ than Kuznetsk.
Các chỉ tiêu hiệu quả (trong bảng) xem ra là chấp nhận được, nhưng cần lưu ý rằng mức chiết khấu 10% được thừa nhận là không cao, chi phí cho việc phát công suất và chi phí cho mặt bằng, kết nối giao thông đưa vào tính toán còn thấp, cũng thiếu các khoản cổ tức cho các cổ đông và chủ yếu là chưa nêu đầy đủ chi phí cung cấp khí cho nhà máy điện trong phương án TBKHH. Chính vì vậy cả hai phương án đều đạt các chỉ tiêu hạng “ưu” về tiêu chuẩn IRR và thời hạn hoàn vốn với các giá trị bằng số quá thuận lợi.
Phương án TBKHH xét về tất cả các tiêu chí có vẻ hấp dẫn hơn (LRH gần gấp ba lần so với phương án NMNĐ đốt than). Tuy nhiên không thể đồng tình với giải pháp được thông qua trong dự án về chất đống các phế liệu tro xỉ trong bãi thải. Rõ ràng hiệu quả của phương án NMNĐ đốt than có thể được nâng cao khi tạo ra xí nghiệp tận dụng tro xỉ, điều đó sẽ tăng thêm lợi nhuận và tránh được việc thuê đất cho bãi thải tro xỉ.
NMNĐ Kostromskaia. Kết quả tính toán được minh họa bằng phương án mở rộng với tổ máy TBKHH-800, mức chiết khấu theo yêu cầu của chủ dự án 13% cho số giờ vận hành công suất đặt khác nhau. Đồng thời cần xét đến rằng trong điều kiện NMNĐ hiện hữu với công suất đặt 3.600 MW, thiết bị TBKHH mới sẽ được mang tải tối đa trong giới hạn các khối lượng khả dụng của khí hạn mức và thương mại. Theo yêu cầu của các nhà đầu tư trong tính toán chấp nhận số giờ vận hành công suất đặt là 7.000 h/năm.
Trị số LRH không lớn lắm được giải thích là do chủ dự án yêu cầu thời hạn của giai đoạn đầu tư chỉ vẻn vẹn 20 năm, điều này không tương ứng với yêu cầu tiêu chuẩn (25 - 30 năm). Hơn nữa trị số TL thậm chí với 6.000 h vận hành có dự trữ nguồn tiền vào đã chiết khấu gần 12%.
NMNĐ Novgorođskaia. Đã phân tích hai phương án NMNĐ: Tổ máy với các thông số hơi cực siêu tới hạn (CST) với các phương án phụ 30% và 100% vốn cổ phần, đốt than mỏ Kuznetsk và tổ máy với lò hơi tầng sôi tuần hoàn (LST) với 100% vốn cổ phần, đốt than hỗn hợp (than mỏ Irsha - Borođinsk trộn với than bùn). Đã phát hành cổ phiếu với mệnh giá 1.000 rúp một cổ phiếu, giai đoạn đầu tư - 25 năm.
Chỉ có phương án phụ thứ 2 của phương án 1 với mức chiết khấu 10% và thời hạn hoàn vốn qui về hiện tại là chấp nhận được. Các chỉ tiêu hiệu quả thương mại của phương án lò tầng sôi tuần hoàn là không chấp nhận được (xem bảng). Các tính toán kinh tế - kỹ thuật cho DAĐT NMNĐ Novgorođskaia khẳng định phải có cách tiệm cận nghiêm ngặt hơn trong việc lựa chọn các phương án ngay từ giai đoạn đầu.
NMNĐ Đubrovskaia. Đã so sánh ba phương án xây dựng mới: Tổ máy đốt than phun, thông số hơi CST, lò hơi LST và TBKHH, sử dụng 50% vốn cổ phần, và mức chiết khấu 10%. Các chỉ tiêu thu được về hiệu quả của các phương án (xem trong bảng) về nguyên tắc là không thể chấp nhận được. Các tính toán cho thấy rằng phương án TBKHH khi tăng tỉ lệ vốn cổ phần lên tới 70% theo các tiêu chuẩn là chấp nhận được (LRH = 376,68 triệu rúp), nhưng thời gian hoàn vốn qui về hiện tại lại cao hơn mức bình thường đối với công nghệ đó (13 năm). Cần lưu ý rằng suất đầu tư đối với phương án TBKHH rõ ràng quá cao so với thực tế (1.315 USD/kW). [Thực tế đối với các TBKHH với cầu hình 3-3-1 công suất 1.080 MW (NMNĐ Phú Mỹ 1) thì suất đầu tư < 400 USD/kW].
Khi phân tích các chỉ tiêu về hiệu quả theo công nghệ LST của các NMNĐ Novgorođskaia và Đubrovskaia phải nhận thấy rằng việc sử dụng nhiên liệu nhiệt trị cao vận chuyển đến so với nhiên liệu tại chỗ (than bùn hoặc phiến thạch) của mỏ Irsha - Borođinsk ngay cả khi có vốn cổ phần với tỉ lệ cao (50 và 81%) vẫn cho phép đạt tỉ suất lợi nhuận tăng cao gấp đôi.
Kết luận
1. Nghiên cứu khả thi dự án xây dựng mới cũng như trang bị kỹ thuật lại hoặc hiện đại hóa NMNĐ hiện hữu đòi hỏi tối ưu hóa các giải pháp kỹ thuật trong khuôn khổ nhiệm vụ mà chủ dự án đặt ra. Vì vậy giai đoạn hoàn tất quan trọng nhất của việc triển khai DAĐT là xác định hiệu quả kinh tế của các phương án thực hiện dự án khác nhau, với các cơ cấu nguồn vốn đầu tư khác nhau.
2. Nghiên cứu khả thi (luận chứng kinh tế - kỹ thuật) với trình độ nghiệp vụ cao đối với các DAĐT công trình năng lượng không thể thực hiện được nếu đơn vị tư vấn thiết kế - tư vấn kinh tế thiếu hiểu biết về công nghệ sản xuất năng lượng và không có sự hợp tác tốt với các chuyên gia kỹ thuật. Chỉ có sự liên kết chặt chẽ nỗ lực của các chuyên gia đó mới có thể xem xét toàn bộ các giải pháp kỹ thuật và công nghệ của công trình, đánh giá hiệu quả của chúng và đề xuất phương án thực hiện DAĐT chấp nhận được đối với chủ dự án và các nhà đầu tư.
3. Điều kiện quan trọng của việc luận chứng kinh tế của DAĐT là duy trì được hiệu quả của nó khi có sai lệch về các chỉ tiêu chủ yếu liên quan đến giá (suất đầu tư, giá nhiên liệu, biểu giá điện, biểu giá nhiệt) so với các trị số tính toán. Quan điểm này cho phép ở mức độ gần đúng đánh giá được rủi ro của nhà đầu tư do thiếu xác thực trong dự báo thay đổi các chỉ tiêu về giá ban đầu và định mức chiết khấu cho toàn bộ giai đoạn của dự án.