Tính đến cuối 2007, tổng công suất thủy điện trên toàn thế giới là 807 GW,bao gồm cả bơm chứa (thủy điện tích năng) tăng hơn năm 2006 là 50 GW.Sản xuất điện lượng hàng năm là 3 03 0Gwh, so với 2 900 Twh năm 2006.
Bước sang năm 2008, tối thiểu có 150 GW thủy điện đang xây dựng ở tối thiểu150 quốc gia trên toàn thế giới và có khoảng 60 quốc gia, thủy điệntham gia hơn 50% tổng điện năng quốc gia.
Trong tất cả các châu lục của thế giới, trừ Anstralia, sản xuất điện năng từthủy điện đều tăng, châu Á là châu lục có số lượng lớn nhất về pháttriển thủy điện, đã tăng từ khoảng 933 Twh/năm lên 1 061 Twh/năm. Côngsuất thủy điện đang xây dựng ở châu Á, tăng khoảng27% là hơn 99 GW lên hơn 126 GW. Các quốc gia dẫn đầu về tốc độ vẫn là Trung Quốc, An Độ, Việt Nam, Nga, Iran, …
Với tiêu đề “Thủy điện, phát triển năng lượng phục hồi sạch và quan trọng nhất”, Chủ tịch Hiệp hội thủy điện Canada, Pierre Portin, đã viết “Trongthế giới môi trường các bon tăng cao của chúng ta, các dạng năng lượngphục hồi như thủy điện và năng lượng gió, có tiềm năng để thỏa mãn tiêuchuẩn kinh tế, xã hội, môi trường và bền vững đòi hỏi ở thời đại chúngta”.
Nguồnnăng lượng phục hồi có vai trò then chốt trong phát triển bền vững vớinhiều lý do. Đó là chúng phục hồi, cung cấp năng lượng mà không làm cạnkiệt nguồn. Chúng là sạch, về sản xuất mà không làm ô nhiễm không khívà giúp làm giảm sự lan tỏa khí hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa chu kỳ sốngảnh hưởng môi trường của nguồn năng lượng phục hồi nhỏ hơn nhiều so vớinguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.
Nănglượng mặt trời và năng lượng gió, cũng là nguồn năng lượng phục hồi cótiềm năng to lớn, các dạng năng lượng này phải đổi mới với thách thứclà sản xuất không đều. Vì vậy, thủy điện có hồ chứa, có thể cung cấplinh hoạt cho phép đáp ứng hầu hết các nhu cầu cấp tốc khi dao động phụtải, cho nên sẽ là nguồn tốt nhất để hỗ trợ cho sử dụng nguồn nănglượng gió và mặt trời.
Đâylà sự khẳng định vai trò quan trọng của thủy điện trong nguồn nănglượng phục hồi, không chỉ bởi tiềm năng to lớn và kinh nghiệm lâu đờicủa nó, mà còn là nguồn hỗ trợ đắc lực cho các nguồn năng lượng phụchồi khác, gió và mặt trời, phát huy hiệu quả tốt hơn.
Vìvậy, tuy tiềm năng khả thi, kỹ thuật thủy điện thế giới được đánh giágần 14 400 Twh/năm, trong đó tiềm năng kinh tế khoảng 8 200 TWh/năm(57%) mà các nước công nghiệp hóa lớn nhất đã khai thác đều hơn 70%tiềm năng kinh tế (có nước như Pháp đã khai thác hơn 85%), nhưng naycũng đang tìm cơ hội khai thác thêm. Các nước khác trên thế giới, chủyếu là các nước đang phát triển, mới khai thác được 20% tiềm năng kinhtế, nơi mà nước và năng lượng là rất cần thiết cho phát triển kinh tếxã hội đất nước.
Với sự thừa nhận, thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi, sạch và bền vững, cùng với sự phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu của mục tiêu thiên niên kỷdo Liên hiệp quốc đề ra, cộng đồng các nhà khoa học, chính trị, xã hộiquốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế để thảo luận về sự hỗ trợ vàliên kết sức mạnh để thúc đẩy phát triển thủy điện bền vững, trong điềukiện thay đổi khí hậu toàn cầu và sự cấp thiết về an ninh năng lượng vàan ninh lương thực.
Tínhcấp thiết của an ninh năng lượng thể hiện rất rõ trong phát triển kinhtế xã hội. Theo giáo sư A.K.Biswas, Giámđốc trung tâm thứ ba về quản lýnước ở Mêxicô, đã dẫn chứng : do sự thiếu hụt năng lượng năm 2005, AnĐộ đã bị giảm tổng sản phẩm quốc dân 3 000 tỷ rupi (gần 67 tỷ USD)tương đương 9% GDP đất nước.
Từ sự cấp thiết của sự thay đổi khí hậu, hội nghị quốc tế Liên hiệp quốc tổ chức ở Montreal (12/2005) đã đề ra nhiệm vụ là làm thế nào để hoàn thành một hệ thống quốc tế mạnh về thủy điện. Bởivì sự quan trọng của thủy điện trong việc thỏa mãn nhiều mục tiêu, baogồm cả sự thay đổi khí hậu. Hội nghị nhấn mạnh, công nghiệp thủy điệnquốc tế, cần phải cùng nhau tiếp tục làm việc để thúc đẩy nhiều lợi íchcủa thủy điện, bao gồm yếu tố quan trọng là thủy điện xem như trụ cộtcủa hệ thống năng lượng phục hồi, hỗ trợ đắc lực cho các dạng nănglượng phục hồi khác phát huy hiệu quả.
Chínhvì vậy, sự phát triển thủy điện, cần phải được các cơ quan, chính phủ và tài chính khích lệ, để nâng cao tỷ lệ năng lượng phục hồi trong hệthống điện năng mà thủy điện là nòng cốt. Do đó, không chỉ có nhữngnước giàu tiềm năng thủy điện, chủ yếu là những nước đang phát triển,mà ngay cả những nước phát triển, dù đã khai thác phần lớn tiềm năng,cũng đang quay trở lại phát triển thủy điện qui môlớnvà thủy điện tích năng. Ngay như Anh quốc là quốc gia nhiều năm khôngphát triển thủy điện, nay cũng đang triển khai một dự án thủy điện 100MW, lớn nhất trong 50 năm qua. Hơn nữa sẽ thúc đẩy phát triển thủy điệnở châu Au, còn thể hiện chủ trương tăng tỷ lệ năng lượng phục hồi lên20% trong hệ thống điện năng của Liên minh châu Au (EU). Đó là dự thảo “Chỉ thị năng lượng phục hồi”(RES) của EU dự kiến trình Nghị viện châu Au vào tháng 6-2009, về quiđịnh tỷ lệ năng lượng là 20% ở năm 2020, hội nghị dưới tiêu đề “Hidracnergia 08 – những thách thức nổi bật dối với chính sách và công nghệ thủy điện nhỏ”,được tổ chức ở Slovenia, từ 12-13 tháng 6-2008. Sự kiện được tổ chứcbởi Hiệp hội thủy điện nhỏ châu Au (ESHA) và Hiệp hội thủy điện nhỏSlovenia (SSHA). Chính sách tổng quát là tăng tốc phát triển năng lượngphục hồi ở châu Au, để thu được điều này, thủy điện cần phải tích cựcnhư năng lượng gió đã làm.
Hộinghị đã thảo luận nhiều chủ đề, từ ảnh hưởng của chính sách đến pháttriển thủy điện nhỏ, đến cải thiện hình ảnh của thủy điện nhỏ và cácgiải pháp kỹ thuật công nghệ của thủy điện nhỏ.
Phiênhọp đầu tiên về ảnh hưởng của chính sách đến phát triển thủy điện nhỏ,chủ trì bởi Chủ tịch ESHA.GS, Bernhard PeliKau và tổng thư ký ESHA,Christine Lins, với bản trình bày có chủ đề “Năng lượng phục hồi cho châu Au-20 phần trăm đến 2020”.Đồng chủ trì, Chủ tịch SSHA cho rằng mục tiêu khó đạt được do có nhiềuthách thức bao gồm thiếu nhà đầu tư tâm huyết và quá trình hành chínhkéo dài, các đại diện của Thụy Sĩ, Lithuanie, … lưu ý đều ưu tiên pháttriển thủy điện nhỏ, các lợi ích vốn có của thủy điện và khuôn khổchính sách thủy điện nhỏ trong các thành viên mới của EU. Quacuộc họp của chín tiểu ban của hội nghị, đã đi đến các kết luận : nhấnmạnh đến tính ưu việt của thủy điện và coi thủy điện là nguồn nănglượng phục hồi thích hợp nhất cho tương lai của Trái đất và coi sự pháttriểnthủy điện là quyền lợi của cộng đồng.
Đây là một kinh nghiệm cho những nước đang phát triển, khi đang khẩn trươngtriển khai những sơ đồ thủy điện lớn và vừa, cũng cần quan tâm đếnchiến lược phát triển thủy điện nhỏ, sao cho khai thác toàn bộ nguồntài nguyên thủy điện có hiệu quả nhất.
Đối với Việt Nam,kể từ khi khởi động TSĐ5, với chương trình phát triển thủy điện qui môlớn thì đồng thời cũng là lúc nở rộ phong trào làm thủy điện nhỏ. Vớisự đồng khởi công xây dựng thủy điện nhỏ hiện nay, là chủ trương sángsuốt của Đảng và chính phủ, tạo bước ngoặt lớn đối với sự nghiệp pháttriển thủy điện đất nước.
Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện cho thấy việc phát triển thủy điện nhỏ,còn nhiều bất cập, hiệu quả kinh tế chưa cao với nhiều nguyên nhân. Vìvậy, chúng tôi đề nghị nên có một chương trình nghiên cứu về “Chiến lược phát triển thủy điện nhỏ”nhằm đề xuất các chính sách khích lệ phát triển thủy điện nhỏ, đặc biệtở những vùng xa xôi, hẻo lánh, để nâng cao phúc lợi cho vùng dân tộc ítngười, đồng thời quản lý và khai thác nguồn tài nguyên thủy điện cóhiệu quả, trong điều kiện giá nhiên liệu ngày càng tăng cao.
Để thúc đẩy phát triển thủy điện toàn cầu, Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA-2006) đã xuất bản phụ lục VII, với tiêu đề “Thủy điện thực tế tốt - các biện pháp tiết giảm môi trường và các lợi ích”.Mục tiêu đặc biệt của phụ lục là các tài liệu về các ví dụ tốt về thủyđiện, mà có tiềm năng cung cấp các thủy điện điển hình về các mặt :thiết kế, qui hoạch, đánh giá ảnh hưởng môi trường, phổ biến thông tinvề các biện pháp bảo vệ môi trường, tối ưu hóa hiệu quả tích cực củathủy điện, …
Từ mộtnghiên cứu toàn diện 5 năm về đề tài “Thủy điện và môi trường - bối cảnh hiện tại và chỉ dẫn cho tương lai” (IEA-2003) đã đề xuất ra 15 vấn đề then chốt để đánh giá “thủy điện tốt”. Các vấn đề thuộc bốn đề mục, bao gồm :
-Đề mục A – những ảnh hưởng vật lý, sinh học,gồm sáu vấn đề : từ đa dạng sinh học, chế độ thủy văn, tiết giảm thủysản và giao thông thủy, bồi lắng hồ chứa, chất lượng nước, đến tíchnước hồ chứa.
-Đề mục B – những ảnh hưởng kinh tế xã hội, gồm bốn vấn đề là : tái định cư, cộng đồng thiểu số, sức khoẻ cộng đồng và cảnh quan, di sản văn hóa.
-Đề mục C – phân chia các lợi ích phát triển, gồm bốn vấn đề là : lợi ích do phát điện, lợi ích do chức năng của đập, cải thiện HTCS và phát triển công nghiệp khu vực.
-Đề mục D – các phần khác, một vấn đề.
Từ việc lựa chọn và tập hợp các ví dụ về “thủy điện tốt”,đã giúp cho hành động tương lai thu được các mục tiêu, như chia sẻthông tin trên những thực tế tốt đặc biệt, đánh giá khách quan về sựphát triển thủy điện bền vững, qui hoạch các biện pháp hoàn toàn thíhchợp để tiết giảm các ảnh hưởng bất lợi và tối ưu hóa lợi ích, xúc tiếnhợp tác “liên khu vực”.
Đối với Việt Nam, chúng tôi thấy việc làm này là cần thiết. Bởi vì chúng ta đã và đangkhẩn trương xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện với các qui môlớn, vừa và nhỏ, ở khắp các vùng có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hộivà môi trường khác nhau, … với thời gian rất khẩn trương để hoàn thànhnhiệm vụ cung cấp điện phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội đất nước. Tuy nhiên, với khối lượng khổng lồ, thực hiện trong thời gian tương đốingắn, nên tất cả các lực lượng xây dựng thủy điện, từ khảo sát, thiếtkế, xây dựng đều lắp máy và giám sát xây dựng, …, đều phải căng sức rathực hiện. Tuy hiện nay đang ở giai đoạn “nước sôi lửa bỏng”,tốc độ xây dựng đang được đẩy mạnh, nhưng cũng là lúc chúng ta cần,nhìn lại quá trình triển khai chương trình phát triển thủy điện, mộtcách khách quan, cẩn trọng, nhằm điều chỉnh kịp thời những điều chỉnhvà tối ưu hóa lợi ích thu được từ sự phát triển này. Đó là nếu xây dựng một chương trình nghiên cứu về “thủy điện tốt” ở Việt Nam theo tiêu chí quốc tế (như IEA đề ra).
Với rất nhiều bài học kinh nghiệm của thế giới về phát triển bền vững nguồn nước và nguồn thủy điện, chúng tôi chỉ nêu ngắn gọn một vài bài học mà chúng tôi cho rằng nó là thiết thực đối với nước ta về trước mắt cũng như lâu dài, để những người quan tâm đến vấn đề trên tham khảo.
Kỹ sư Lê Quang Huyến
(nguồn Hascon)